Bằng chứng lịch sử cổ xưa của cư dân trên lãnh thổ Việt Nam và Đông Nam Á trên biển Đông

Tác giả Vũ Đức Liêm là giảng viên Khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Anh có bằng cử nhân và thạc sĩ Lịch sử tại Đại học Sư phạm Hà Nội. Năm 2012, anh nhận bằng thạc sĩ thứ hai về nghiên cứu Đông Nam Á ở đại học Chulalongkorn Thái Lan trước khi trở thành Nghiên cứu sinh ngành lịch sử Việt Nam ở đại học Hamburg. Nghiên cứu của anh tập trung vào lịch sử Việt Nam thế kỷ XVII-XIX và tương tác giữa Việt Nam với Đông Nam Á.

 

Phán quyết của Toà trọng tài thường trực (PCA) hôm 12/7/2016, phủ nhận các tuyên bố về vùng biển lịch sử của Trung Quốc trên biển Đông rõ ràng là một chiến thắng cho những nước chống lại tham vọng bành trướng của Trung Quốc. Đồng thời nó cũng là một diễn biến mới quan trọng trong dài hạn trên nhiều phương diện.

Thứ nhất, lần đầu tiên có một toàn án quốc tế ra phán quyết phủ nhận các tuyên bố về cái gọi là Đường chín đoạn cũng như phủ nhận tính pháp lí của việc Trung Quốc độc chiếm biển Đông và ngăn cản trái phép việc thực thi chủ quyền và đặc quyền kinh tế của các nước khác.

Thứ hai, phán quyết của Tòa cho rằng không một đảo nào trên vùng tranh chấp Biển Đông có thể được coi là một đảo “đúng nghĩa” (tức là tự thân nó có thể hỗ trợ cho đời sống của con người). Vì thế, không một đảo nào có thể tạo ra vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lí với thềm lục địa. Phán quyết này rõ ràng không chỉ liên quan đến Trung Quốc hay Philippine mà còn ảnh hưởng đến tất cả các bên có tuyên bố chủ quyền trong khu vực.

Thứ ba, phán quyết này cũng sẽ đẩy khu vực vào một tương quan mới, buộc các bên phải có chính sách phù hợp đi theo phán quyết này. Dù phán quyết của Tòa là không ràng buộc, nhưng rõ ràng sự phản ứng của Trung Quốc với tư cách là một siêu cường sẽ cho thấy cách thức và chiều hướng tình hình Biển Đông sẽ diễn biến. Có vẻ như ngay trong ngày đầu tiên sau phán quyết thì Trung Quốc đã chơi “không đẹp”. Một loạt sao Hoa ngữ đăng status ủng hộ Beijing trên Weibo. Làn sóng dân tộc chủ nghĩa cực đoan có vẻ như đang được dịp nổi lên ở Trung Hoa, và một sự khiêu khích rõ ràng khi cho máy bay dân sự hạ cánh xuống đá Vành Khăn thuộc Trường Sa. Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân cũng nói về khả năng nước này lập Vùng Nhận dạng Phòng không (ADIZ) ở Biển Đông.

Giới quan sát Phương Tây lo ngại rằng điều này có thể là mở đầu cho một cuộc xung đột mang tính toàn cầu giữa Trung Quốc –siêu cường đang nổi lên và các thiết chế quốc tế do phương Tây bảo trợ. Trung Quốc đang tập hợp một mặt trận các nước ủng hộ mình và tờ China daily hôm nay tuyên bố là đã có 70 nước ủng hộ lập trường của Beijing:

Sividuc_biendong_ (1)

Trong trường hợp xấu nhất, Trung Quốc có thể rút ra khỏi Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển (The United Nations Convention on the Law of the Sea -UNCLOS) và thiết lập một hệ thống quốc tế riêng không lệ thuộc vào Phương Tây.

Cho dù tất cả các bằng chứng và tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đều dựa trên cơ sở “Lịch sử”, và họ tuyên bố rằng ít nhất là từ thời Hán, các tàu thuyền của họ đã đến các quần đảo trên biển Đông. Nhìn từ góc độ lịch sử, một cách thức tiếp cận tương tự đối với các cư dân trên lãnh thổ Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á khác có thể sẽ làm người Trung Quốc thất vọng khi phát hiện ra rằng hàng nghìn năm trước nhà Hán các cư dân Việt cổ, Champa, Malay đã tung hoành trên vùng biển, quần đảo, và duyên hải này, đặc biệt là từ trước thế kỷ XVII, khi mà sự hiện diện của Trung Hoa là rất mờ nhạt.

Trước khi Tần Thủy Hoàng đem quân xuống phía nam Trường Giang, đã diễn ra cuộc di cư của các cư dân nói tiếng Nam Đảo/ Malay (từ Đài Loan) xuống Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương cách đây 5000-7000 năm mang theo lúa nước, lợn, dừa, khoai lang, và kỹ nghệ làm gốm… qua các hòn đảo, duyên hải trên Biển Đông (Peter Bellwood 2006, 2007, 2014; Solheim 2007). Trong khi đó, phải đến nhà Thanh (cuối thế kỷ XVII), Trung Quốc mới bắt đầu xác lập ở Đài Loan và các hòn đảo lân cận.

Sividuc_biendong_ (2)

Bản đồ về các cuộc di dân của cư dân Nam Đảo

Cũng trong giai đoạn này, Biển Đông trở thành môi trường sôi động của các mối giao tiếp thương mại, hàng hải, đặc biệt giữa người Việt và các nhóm Nam Đảo. Bản đồ phân bố trống đồng cũng như nhiều loại hình hiện vật trao đổi và vật phẩm thương mại khác như khuyên tai hai đầu thú và các chuỗi hạt đã quý tìm thấy trong văn hóa Óc Eo, Sa Huỳnh chính là hiện thân của các mối giao lưu giữa các nhóm cư dân xung quanh biển Đông, và với cả Ấn Độ (Ian Glover 1989).

Sividuc_biendong_ (3)

Bản đồ về các trung tâm trống đồng ở Đông Nam Á, 300 BC-100 AD (Ambra Calo, 2014)

Chính các con tàu của thương nhân Malay đã kết nối các nhà du hành Trung Quốc như Pháp Hiển, Nghĩa Tĩnh. Các thương nhân Malay cũng làm chủ hoạt động thương mại giữa Trung Quốc với Đông Nam Á ít nhất cho đến thế kỷ XIII bằng việc chở hương liệu, gia vị như đinh hương, nhục đậu khấu, hồ tiêu và vàng… đến Quảng Châu và mang về các hàng hóa Trung Quốc (Oliver Wolters 1967, 1970). Vì thế, việc Trung Quốc tuyên bố mối liên hệ của họ với các con tàu đắm và hàng hóa chúng mang theo không phản ánh việc họ là chủ nhân của các con tàu thương mại, cũng như không nói lên sự tham gia của người Hán vào các hoạt động thương mại trên biển Đông.

Sividuc_biendong_ (4)

Hình thuyền khắc trên quần thể Borobudur (Java, Indonesia, thế kỷ VIII)

Trong khi thương nhân và các nhà du hành Hồi giáo đến Champa vào thế kỷ X đã gọi khu vực biển miền trung Việt Nam là “Biển Champa”. Người Cham đã đóng vai trò đặc biệt trong mạng lưới trao đổi biển Đông nhiều thế kỷ. Họ có kỹ thuật hàng hải ưu việt, xây dựng các hạm thuyền mạnh và đã từng đi ngang qua biển Đông, đến một số hòn đảo phía tây Philippine để khai thác vàng. Người Chăm cũng có mối liên hệ rộng rãi với các cư dân xung quanh biển Đông, đặc biệt là các cộng đồng Malay trên quần đảo Indonesia. Một công chúa Champa đã kết hôn với nhà vua Majapahit trên đảo Java, nơi mà các nhà khảo cổ học cũng tìm thấy các mảnh gốm sứ Việt Nam thế kỷ XIV-XV.

Cũng bắt đầu từ thế kỷ XIII khi chính sử sách Trung Quốc ghi nhận vùng biển trong vịnh Bắc Bộ ngày nay, với tên gọi “Giao Chỉ Dương” – Biển Giao Chỉ. Sự công nhận này hoàn toàn không phải ngẫu nhiên trong một giai đoạn mà tham vọng bành trướng xuống phía nam của nhà Nguyên đã bị đánh tan, đặc biệt là trước sức mạnh của hải quân Đại Việt, Champa và Java. Đại Việt Sử Ký toàn thư cũng ghi nhận sự mở rộng giao thương hàng hải của các hải cảng phía bắc Việt Nam với bên ngoài, trong đó có Vân Đồn (Nguyễn Văn Kim, 2015), trong khi các vua Lý, Trần cũng thường xuyên cho hạm đội tuần tra biển và cử các hoàng tử đi trấn trị duyên hải.

Rõ ràng là trước thế kỷ XVIII, bằng chứng lịch sử của người Việt, người Chăm và các nhóm cư dân Đông Nam Á khác là thuyết phục hơn rất nhiều so với các ghi chép rời rạc và việc cấm hải thường xuyên của Trung Quốc.

Trong khi đó, người Hán không phải là các cư dân biển hay có liên hệ biển. Vùng đất khởi đầu của văn minh Trung Hoa là khu vực trung lưu sông Hoàng Hà, nơi có các mối liên hệ về phía Tây, ăn sâu vào lục địa nhiều hơn là biển (xem Victor Mair). Trong nhiều thời kỳ lịch sử, các vương triều Trung Quốc tiến hành chính sách cấm hải hơn là có sự thân thiện và cởi mở với biển. Gần nhất là chính sách hải cấm của nhà Minh nhằm chống lại cướp biển Nhật Bản, và hải cấm thực hiện dưới thời Khang Hy nhà Thanh.

Các tư liệu Trung Quốc cũng phải thừa nhận sự có mặt rộng rãi và vai trò chủ đạo của thương nhân Đông Nam Á, Arab và Ba Tư trên biển Đông và miền Nam Trung Hoa trước nhà Tống, đặc biệt là ở Quảng Châu. Nhiều nhà sư Trung Quốc du hành sang Ấn Độ như Pháp Hiển (399-414), Nghĩa Tĩnh (635-713) đều ghi chép việc họ đi nhờ các con tàu Đông Nam Á và Arab để đến Ấn Độ.

Cuộc du hành của Trịnh Hòa (1371-1433) qua Biển Đông đến Ấn Độ Dương không phải là để khám phá đất đai hay tuyên bố chủ quyền mà đơn thuần là cuộc phô trương thanh thế và đòi hỏi các nước triều cống mà thôi.

Chính vì điều này mà tất cả các bản đồ của Trung Quốc đều lấy giới hạn đến đảo Hải Nam.

Sividuc_biendong_ (5)

Trung Quốc quốc sỉ địa đồ, 1930s

Phần lớn các bản đồ tuyên bố chủ quyền của TQ đều là bản đồ tư nhân, tự tạo trong những năm 1920s-1940s. Các bản đồ này phản ánh tham vọng trỗi dậy của Trung Quốc và dùng các vùng đất được cho là đã mất vào tay Phương Tây để kích động tinh thần dân tộc của dân Trung Quốc, hơn là dựa trên bất cứ bằng chứng lịch sử hay tuyên bố chủ quyền nào trước đó. Như bản đồ về nỗi xỉ nhục của Trung Quốc trên đây đã gộp toàn bộ bán đảo Triều Tiên, Trung Á và Đông Nam Á vào lãnh thổ Trung Quốc.

Hình thái rút gọn của các bản đồ này trở thành đường 11 đoạn (sau này là 9 đoạn) ra đời 1947, và được sử dụng một cách không chính thức. Bản thân chính quyền TQ cũng không (và không thể) đưa ra bất cứ một lí giải nào vì sao lại có các đường này và đâu là mốc giới cụ thể.

Sividuc_biendong_ (6)

Bản đồ các đảo trên Biển Đông: Nam hải chư đảo vị trí đồ (1947) (Chris Chung, 2013)

Chính vì thế, nếu xét từ góc độ lịch sử thì không phải là người Trung Quốc, mà là người Việt, người Chăm và các sắc dân Đông Nam Á khác mới là những chủ nhân thực sự của Biển Đông./

 

Vũ Đức Liêm

Bài viết được đặt hàng bởi sividuc.org

Vào ngày 11 tháng 06 năm 2016 vừa qua tại Universität Hamburg cũng đã có một buổi nói chuyện về chủ đề biển đảo Việt Nam của diễn giả Vũ Đức Liêm với sự kết hợp của Khoa Việt học và Hội sinh viên Hamburg.

 

Tham khảo thêm tại:

 

 

© sividuc.org - Mọi bài viết đều thuộc bản quyền của sividuc.org Hội sinh viên Việt Nam tại CHLB Đức. Chỉ được phát hành lại thông tin từ website khi có sự đồng ý chính thức bằng văn bản

Liên hệ: Hội sinh viên Việt Nam tại CHLB Đức
Website: http://sividuc.org/
Fanpage: https://www.facebook.com/sividuc
Facebook group: https://www.facebook.com/groups/banhotrosv.sividuc/
Email: sividuc.org@gmail.com

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

WordPress spam blocked by CleanTalk.
Follow us on Facebook